Info bar

Bảo hộ Nhãn hiệu tại Việt nam theo Luật SHTT mới

Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng nhận thức trong giới doanh nghiệp và người tiêu dùng về tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền nhãn hiệu, Việt nam đã nỗ lực cải cách hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này. Hiện nay, quyền về nhãn hiệu được bảo hộ theo Bộ Luật Dân sự sửa đổi 2005 (có hiệu lực từ ngày 1/01/2006) và Luật SHTT (có hiệu lực kể từ ngày 1/07/2006).
Dưới đây là một số điểm mới về bảo hộ Nhãn hiệu theo Luật SHTT:
1. Điều kiện bảo hộ Nhãn hiệu
Điều kiện bảo hộ Nhãn hiệu quy định trong Luật SHTT nhìn chung là sự tiếp nối của các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng trước đây. Cụ thể, theo luật SHTT, một dấu hiệu được bảo hộ như là một Nhãn hiệu nếu (i) là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; và (ii) có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Như vậy đây là lần đầu tiên bảo hộ hình không gian ba chiều được chính thức quy định trong luật.
Theo Luật SHTT, Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các dấu hiệu bị loại trừ quy định tại khoản 2 Điều 74.
2. Các loại nhãn hiệu được bảo hộ
Theo Luật SHTT, các loại nhãn hiệu được bảo hộ bao gồm: (i) nhãn hiệu hàng hóa/nhãn hiệu dịch vụ; (ii) nhãn hiệu tập thể; (iii) nhãn hiệu chứng nhận; (iv) nhãn hiệu liên kết; và (v) nhãn hiệu nổi tiếng.
Như vậy, đây là lần đầu tiên Việt Nam có quy định bảo hộ Nhãn hiệu chứng nhận. Theo Luật SHTT, Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu. Các tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hoá, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đó.
Tại các văn bản trước đây, Nhãn hiệu nổi tiếng đơn thuần được hiểu là nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng liên tục cho sản phẩm, dịch vụ có uy tín khiến cho nhãn hiệu đó được biết đến một cách rộng rãi. Luật SHTT đưa ra các tiêu chí sau để đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng:
  • Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;
  • Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;
  • Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;
  • Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
  • Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;
  • Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
  • Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;
  • Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.
Các quy định về Nhãn hiệu tập thể và Nhãn hiệu liên kết không có thay đổi đáng kể.
3. Xác lập quyền đối với Nhãn hiệu
Quyền đối với Nhãn hiệu chỉ phát sinh trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc ưu tiên như đối với phần lớn các đối tượng SHCN khác. Một điểm mới đáng chú ý là Luật SHTT cho phép hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện (i) việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh; và (ii) việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ.
Thời hạn xử lý đơn đăng ký nhãn hiệu được rút ngắn, cụ thể là thời hạn xét nghiệm hình thức được rút ngắn từ 3 tháng xuống còn 1 tháng và thời hạn xét nghiệm nội dung được rút ngắn từ 9 tháng xuống còn 6 tháng kể từ ngày công bố đơn. Đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố trong vòng 2 tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận là đơn hợp lệ.
Yêu cầu về việc sử dụng nhãn hiệu:

Cũng giống như các quy định trước đây, hiệu lực của văn bằng bảo hộ có thể bị chấm dứt nếu nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng. Tuy nhiên, theo Luật SHTT văn bằng bảo hộ sẽ không bị mất hiệu lực nếu việc sử dụng nhãn hiệu được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực.

D&N International