Info bar

Thông tin SHTT

Tổng quan SHTT

Lịch sử

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam bắt nguồn từ thời kỳ thuộc Pháp cuối thế kỷ 19, kể từ khi người Pháp tuyên bố áp dụng luật sáng chế trên toàn lãnh thổ Đông Dương (nay là Việt Nam, Lào và Căm-pu-chia). Chế độ này bị bãi bỏ năm 1955 sau khi cuộc chiến tranh ở Đông Dương kết thúc và Việt Nam bị chia làm hai miền. Năm 1957, miền Nam Việt Nam với nền kinh tế thị trường đã ban hành các văn bản pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và các văn bản đó đã bị bãi bỏ sau chiến thắng của miền Bắc Việt Nam năm 1975. Miền Bắc với nền kinh tế kế hoạch tập trung chưa thực hiện việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, và sau khi đất nước thống nhất, việc này được áp dụng trên toàn quốc. Chỉ đến những năm 1980, cùng với việc thông qua chính sách mở cửa và nền kinh tế thị trường, Việt Nam bắt đầu thiết lập hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 31/CP về sáng chế và cải tiến kỹ thuật năm 1981 đánh dấu sự ra đời hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Tuy nhiên, phải đến 15 năm sau, hệ thống này mới thực sự phát triển, khi Việt Nam bắt đầu tiến trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và cố gắng thực hiện những cải tổ hệ thống pháp lý phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Tháng 10 năm 1995, chỉ vài tháng sau khi đệ đơn gia nhập WTO, Quốc hội thông qua Bộ luật dân sự đầu tiên theo đó vấn đề bảo hộ quyền tác giả và một số quyền sở hữu công nghiệp đã được luật hóa. Bộ luật dân sự năm 1995 đánh dấu bước quan trọng trong sự phát triển về quyền Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn khoảng cách khá xa so với những yêu cầu của Hiệp định TRIPs.
Thập niên sau đó là bằng chứng cho sự phát triển thực sự của hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ . Để các quy định của Bộ luật dân sự đáp ứng các yêu cầu của Hiệp định TRIPS, các nhà hoạch định chính sách đã ban hành hàng loạt các pháp lệnh, nghị định và thông tư bao trùm tất cả các đối tượng sở hữu trí tuệ được quy định trong hiệp định TRIPS. Khung pháp lý về sở hữu trí tuệ đã dần được cải thiện và kinh nghiệm được tích luỹ dẫn tới việc ban hành Luật Sở hữu trí tuệ đầu tiên năm 2005, tổng hợp tất cả các quy định pháp lý rời rạc vào một luật duy nhất. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu quá trình hội nhập quốc tế của đất nước, đưa hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ gần hơn với thế giới, nơi mà việc tồn tại một đạo luật riêng biệt và độc lập về sở hữu trí tuệ là phổ biến. Quyền sở hữu trí tuệ theo Luật sở hữu trí tuệ bao gồm ba đối tượng chính cụ thể là Bản quyền tác giả, Quyền sở hữu công nghiệp và Quyền đối với giống cây trồng.
·         Liên quan đến Quyền tác giả, đây là lần đầu tiên thuật ngữ ‘’các quyền liên quan’’ được đề cập đến trong luật Việt Nam. Trên thực tế, Bộ luật dân sự cũng đã có các quy định về ‘’quyền và nghĩa vụ của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng’’. Tuy nhiên, các quyền đó không được gọi trực tiếp là ‘’các quyền liên quan’’. Luật sở hữu trí tuệ định nghĩa ‘’các quyền liên quan’’ bao gồm ‘’quyền đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa’’.
·         Liên quan đến các Quyền sở hữu công nghiệp: Bộ luật dân sự chỉ có các quy định về sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu và xuất xứ hàng hoá. Việc bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp khác được quy định trong một số các văn bản do Chính phủ ban hành như Nghị định số 54 và 42. Ngoài các các đối tượng sở hữu trí tuệ được quy định trong Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ bao gồm cả các quy định về thiết kế bố trí mạch tích hợp, chỉ dẫn địa lý, cạnh tranh không lành mạnh, tên thương mại và bí mật kinh doanh.
·         Liên quan đến các Quyền đối với giống cây trồng: Đây là lần đầu tiên việc bảo hộ các quyền đối với giống cây trồng được quy định trong luật (tại Phần IV, các điều từ 150 đến 200 Luật sở hữu trí tuệ). Trước đây, việc bảo hộ các quyền đối với giống cây trồng được quy định tại Pháp lệnh bảo vệ giống cây trồng do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 24 tháng 3 năm 2004.
Vài tháng sau khi Luật sở hữu trí tuệ có hiệu lực – ngày 1 tháng 7 năm 2006, Chính phủ đã ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn thi hành luật, tạo thành một hệ thống toàn diện và phù hợp với những tiêu chuẩn quốc tế.
 
Các văn bản pháp luật trong nước trong lĩnh vực bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay bao gồm nhưng không giới hạn:
 
1.       Bộ luật dân sự năm 2005 được Quốc hội thông qua tháng 6/2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2006 (Phần VI “Sở hữu trí tuệ và Chuyển giao công nghệ”, Phần VII “Các quan hệ có yếu tố nước ngoài”, ở Điều 774 “Quyền tác giả có yếu tố nước ngoài” và Điều 775 “Quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng có yếu tố nước ngoài”);
2.       Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 được Quốc hội thông qua tháng 6/2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2005 quy định về trình tự và thủ tục tố tụng giải quyết các vụ án và vụ việc dân sự;
3.       Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc hội ban hành tháng 12/1999 (điều 131 – về quyền tác giả, điều 156, 157, 158 – về sản xuất, buôn bán hàng giả, điều 170, 171 – về quyền sở hữu công nghiệp);
4.       Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được Quốc hội ban hành tháng 11/2003 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2004 quy định trình tự và thủ tục pháp lý đối với việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự
5.       Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2006 (gồm 6 chương, 222 điều);
6.       Luật cạnh tranh năm 2004 được Quốc hội thông qua tháng 12/2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2005 (gồm 6 chương, 123 điều);
7.   Luật hải quan năm 2001 được Quốc hội thông qua tháng 6/2001 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2002 được sửa đổi vào tháng 6/2005
8.   Luật Công nghệ thông tin số 67/2006 được Quốc hội thông qua ngày 29/7/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007
9.   Luật khiếu nại tố cáo số 9/1998/QH10 được Quốc hội ban hành tháng 12/1998, được sửa đổi bổ sung bằng Luật khiếu nại tố cáo số 26/2004/QH11 ban hành tháng 6/2004 và Luật khiếu nại tố cáo số 58/2005/QH11 ban hành tháng 11/2005
10. Nghị định số 100/2006/ND-CP của Chính phủ, ban hành tháng 9/2006 và có hiệu lực thi hàhnh tháng 11/2006, hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ liên quan đến quyền tác giả và các quyền liên quan
11. Nghị định số 103/2006/ND-CP của Chính phủ, ban hành tháng 9/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ tháng 11/2006, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ liên quan đến sở hữu công nghiệp
12. Nghị định số 104/2006/ND-CP của Chính phủ, ban hành tháng 9/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ tháng 11/2006, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về giống cây trồng
13. Nghi định số 105/2006/ND-CP của Chính phủ, ban hành tháng 9/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ tháng 11/2006, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ liên quan đến việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước đối với sở hữu trí tuệ
14. Nghị định số 106/2006/ND-CP của Chính phủ, ban hành tháng 9/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ tháng 11/2006, quy định chi tiết thi hành một số điều về xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp
15. Thông tư 01/2007/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ, qui định chi tiết Nghị định 103/2006/ND-CP, ban hành ngày 22/9/2006, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về Sở hữu công nghiệp. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 9/5/2007
16. Thông tư số 132/2004/TT-BCT của Bộ Tài chính ban hành tháng 12/2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31/01/2005, hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí sở hữu công nghiệp
17.  Thông tư số 129/2004/TTLT/BTC-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành tháng 12/2004, hướng dẫn thi hành các biện pháp kiểm soát biên giới về sở hữu công nghiệp đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
18.  Thông tư liên tịch số 58/2003/TTLT-BVHTT-BTC của Bộ Văn hoá – Thông tin và Bộ Tài chính ban hành htháng 10/2003 về việc hướng dẫn bảo hộ quyền tác giả tại cơ quan hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
 
Việt Nam đã là thành viên của nhiều hiệp ước quốc tế đa phương và song phương liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm nhưng không giới hạn ở:
Các điều ước đa phương quan trọng
 
1.          Công ước Paris về bảo hộ các quyền sở hữu công nghiệp (“Công ước Paris”) năm 1949;
2.          Thoả ước Madrid liên quan đến việc đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu (“Thoả ước Madrid”) năm 1949;
3.          Hiệp ước hợp tác về sáng chế (“PCT”) năm1993;
4.          Hiệp định khung ASEAN về sở hữu trí tuệ năm 1996;
5.          Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và ngjhệ thuật năm 2004;
6.          Công ước Geneva về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép bản ghi âm năm 2005;
7.          Công ước Brussels liên quan đến liên quan đến việc phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh năm 2006;
8.          Nghị định thư Madrid năm 2006
Các điều ước song phương
1.       Hiệp định giữa Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về thiết lập quan hệ bản quyền năm 1997 (“Hiệp định bản quyền Việt Nam – Hoa Kỳ”)
2.       Hiệp định giữa nước Cộng hoà Thuỵ Sĩ và nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ năm 1999;
3.       Hiệp định giữa Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quan hệ thương mại năm 2000 (“Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ”)